Thứ Bảy, 21 tháng 7, 2012

Kinh Dịch - di sản sáng tạo của Việt Nam?

Bat-quai.gif
Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam về Kinh Dịch, trong số đó có một công trình đặt lại vấn đề " tác quyền" của bộ Kinh này. Đó là học giả Nguyễn Thiếu Dũng, qua nhiều tìm tòi và nghiên cứu, ông đã nêu ra một số chứng lý để minh chứng rằng Kinh Dịch là sáng tạo của người Việt Nam. Với sự thận trọng cần thiết, Thanhnien Online xin giới thiệu bài viết sau đây của học giả Nguyễn Thiếu Dũng để rộng đường tham khảo.
Từ hai nghìn năm trước khi chúng ta bị phong kiến phương Bắc đô hộ, tổ tiên chúng ta ở thời đại Hùng Vương đã sáng tạo Kinh Dịch và dùng học thuyết này xây dựng nền tảng cơ bản cho văn hoá Việt Nam, nhờ thế trong suốt một nghìn năm lệ thuộc Trung Hoa, chúng ta vẫn đứng vững không bị đồng hoá như các dân tộc ở Hoa Nam.
Người Trung Hoa không biết từ thời điểm nào đã tiếp thu được Kinh Dịch của Việt Nam và họ cũng đã dùng Kinh Dịch để góp phần xây dựng nền tảng văn hoá của họ. Cho nên trong sinh hoạt, chúng ta có nhiều điểm giống họ, sau một nghìn năm mất chủ quyền, ta mất luôn tác quyền Kinh Dịch và những gì ta nghĩ, ta làm thấy giống Trung Hoa ta đều tự nhận mình học của Trung Hoa. Kỳ thật không phải như vậy. Người Trung Hoa rất trọng hướng Đông, khi họ tiếp khách, chủ nhà ngồi quay mặt về hướng Đông để tỏ chủ quyền. Trong thời lập quốc họ luôn luôn hướng về biển Đông, không kể Nam Kinh những Kinh đô danh tiếng của Trung Quốc đều lần lượt nối nhau tiến dần từ Tây Bắc sang Đông. Ngày nay những thành phố lớn của họ cũng đều tập trung ở bờ Đông. Thế mà trong Kinh Dịch họ phải công nhận hướng Nam là hướng văn minh, mặc dầu trong sử sách họ vẫn cho Hoa Nam là xứ man di. Mỗi khi cần bói Dịch họ đặt Kinh Dịch trên bàn thờ cho quay mặt về hướng Nam như hướng ngồi của Hoàng đế, rồi lạy bái cầu xin. Cử chỉ này cho thấy trong tiềm thức họ không quên nguồn gốc Kinh Dịch đến từ phương Nam, từ đất nước của các vua Hùng.
Trong vòng 60 năm trở lại đây một số nhà nghiên cứu Việt Nam đã trực giác thấy rằng Kinh Dịch là tài sản của Việt Nam nhưng khi nói như thế họ vẫn chưa thoát khỏi sự ràng buộc của truyền thuyết nên vẫn thừa nhận Phục Hy là nhân vật sáng tạo Kinh Dịch. Cho nên không tránh được mâu thuẫn.
Ngày nay chúng ta có đầy đủ chứng lý để nói ngay rằng Kinh Dịch là sản phẩm của Việt Nam, do chính tổ tiên người Việt sáng tạo, trên chính quê hương Việt Nam với nhiều bằng chứng vật thể còn lưu dấu trên đồ gốm Phùng Nguyên, đồ đồng Đông Sơn. Phục Hy, Văn Vương chưa từng làm ra Dịch.

Chiếc gậy thần - Dạng thức nguyên thuỷ của hào âm, hào dương


Bat-quai.gif
Kinh Dịch được xưng tụng vào hàng kỳ thư của thế giới là do người làm ra Dịch biết vận dụng một cấu trúc độc đáo làm ngôn ngữ diễn đạt.
Ngôn ngữ của Dịch chỉ có hai ký tự: một hào âm và một hào dương. Hào dương là một vạch liền (-), hào âm là một vạch đứt (--). Đó là hai ký hiệu biểu trưng cho hai năng lực đối lập trong vũ trụ phối hợp với nhau tạo nên vận động của vũ trụ.
Vũ trụ được quan niệm như một thái cực, thái cực có hai năng lượng âm dương (lưỡng nghi) cọ xác nhau, đun đẩy nhau, biến hoá sinh thành tám dạng thức (tám quẻ đơn hay tám kinh quái).
Tám dạng thức này có hai đường vận động:
Tám quẻ đơn vận động trên vòng tròn tạo thành ba thiên đồ: Tiên Thiên Đồ, Hậu Thiên Đồ và Trung Thiên Đồ. Trung Quốc chỉ lưu hành hai đồ Tiên Thiên và Hậu Thiên. Trung Thiên Đồ không được lưu hành ở Trung Quốc vì Trung Quốc không thể nào tìm được thiên đồ này, lý do là Việt Nam cha đẻ Kinh Dịch đã giấu biệt không cho Trung Quốc biết. (Xin xem Kinh Dịch di sản sáng tạo của Việt Nam cùng tác giả).
Tám quẻ đơn chồng lên nhau từng đôi một, tạo thành 64 quẻ kép (hay 64 biệt quái).
Ba Thiên Đồ và 64 quẻ kép bao quát hết mọi qui luật vận động của vũ trụ giúp con người có thể hiểu biết thế giới, cũng như hiểu biết chính mình, qua đó quán chiếu được vận mệnh của mình và của vũ trụ.
Hai hào âm dương có công năng đa trị như thế chẳng khác chi chiếc gậy thần có phép biến hoá giúp con người có khả năng quán thông mọi sự, mọi việc.
Hai hào âm dương tuy đơn giản nhưng lại là phát minh quan trọng có tính quyết định. Đó là cách hệ thống thuyết âm dương, chuyển thành biểu tượng, nhờ biểu tượng - một phương pháp đặt thù của Kinh Dịch - con người có thể đạt đến minh triết.

Cư dân nam Thái Bình Dương đến từ Việt Nam - DNA của lợn có cho câu trả lời?

Trồng trọt và thuần hóa động vật từ lâu được xem là yếu tố quan trọng gắn với quá trình tiến hóa của con người và xã hội loài người. Đối với những nhà nhân chủng học và khảo cổ học, nghiên cứu nguồn gốc, đặc điểm của các loại cây trồng hay vật nuôi góp tiếng nói quan trọng trong việc xác định nguồn gốc của cư dân một vùng, một dân tộc, một quốc gia, liên quốc gia... ..
Tam giác vùng nam Thái Bình Dương

Ý nghĩa những hình vẽ trên bề mặt trống đồng Ngọc Lũ


NgocLu.gif

Tìm hiểu ý nghĩa những hình vẽ trên mặt trống đồng Ngọc Lũ

( Việt Nam Văn Minh Sử - Lê Văn Siêu )

Lời nói đầu :
Theo sự phân loại của Hê-gơ, và bản tổng kê của các nhà khảo cổ tại miền Bắc, trong sách Thời Đại Đồng Thau, những trống đồng loại 1 phát hiện ở Việt Nam khoảng trên 70 chiếc. Số lượng tìm thấy đã hơn bất cứ một miền nào khác. Mặc dầu tướng Mã Viện đời Đông Hán khi qua đánh Giao Chỉ, đã tịch thu không biết bao nhiêu trống nữa, để đúc con ngựa kiểu mà chơi, và đúc cái cột đồng khắc chữ “Đồng Trụ chiết Giao Chỉ diệt“.
Những trống loại 1 đã thấy khá nhiều tại Thanh Hoá để có thể đoán chắc rằng Thanh Hoá là nơi sản xuất và những trống cùng loại thấy ở các nơi khác (Hà Đông, Hà Nam, Hà Nội, Hải Phòng, Hoà Bình, Cao Bằng, Lào Cai, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Định, Nghệ An) là những trống được kịp thời giấu đi. Đó là những trống có thể đoán được là của các tù trưởng đã thuê lò Thanh Hoá đúc. Đó là những vật biểu tượng quyền uy của tù trưởng.
Trống đồng Đông Sơn ở Việt Nam.jpg
The Dong Son bronze drums

Kim tự tháp Yonaguni trên thềm Nanhailand 2


Yonaguni 2.jpg
3/ Ai là chủ nhân của kim tự tháp Yonaguni ?
Các thông tin về thời kỳ cuối kỷ băng hà : 8000-BC chắc chắn không thể có trong sử sách của Hán tộc, vì họ định cư tại bắc TQ khoảng 2500-BC. Những ghi nhận về cộng đồng Việt sinh sống ở Nanhailand chắc chắn là hạn chế.
Như đã nói trong bài 6, phương hướng trên trống đồng ngược với phương hướng ngày nay, điều này có nghĩa là chủ nhân của trống đồng đã chiêm nghiệm thiên văn vào thời kỳ cuối kỷ băng hà (vì trục xoay của Trái Đất đổi vị trí cứ mỗi 11.000 năm)
(Hình 10a) Phương Bắc Nam không đổi, nhưng phương Đông Tây thì ngược so với ngày nay. Để hiểu chi tiết, xin xem lại bài 6.

Trôi dạt lục địa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Sự trôi dạt của các lục địa
Plates in the crust of the earth, according to the plate tectonics theory
Fossil patterns across continents
Trôi dạt lục địa là sự chuyển động tương đối với nhau của các lục địa trên Trái Đất. Lý thuyết trôi dạt lục địa được Alfred Wegener đưa ra lần đầu tiên năm 1912 và tồn tại cho đến khi nó được thay thế bởi lý thuyết kiến tạo mảng.

Mục lục

Năm 1912, Alfred Wegener đã nhận thấy rằng hình dáng của các lục địa ở hai bên bờ của Đại Tây Dương có thể được xếp khít vào nhau (ví dụ Châu PhiNam Mỹ). Sau đó, Benjamin Franklin cũng có nhận xét tương tự. Sự tương đồng giữa các cấu trúc địa lý và hóa thạch ở các lục địa làm cho các nhà địa chất, vào năm 1900, cho rằng các lục địa đã từng xuất phát từ một "siêu lục địa" với cái tên là Pangaea. Ban đầu, giả thuyết đó không được chấp nhận rộng rãi vì người ta không hiểu tại sao các lục địa lại có thể trôi dạt ra xa nhau. Cho đến tận thập niên 1950 nó mới được chấp nhận ở Châu Âu và phải đến thập niên 1960 nó mới được chấp nhận ở Bắc Mỹ. Giả thuyết trôi dạt lục địa trở thành một bộ phận của một lý thuyết lớn hơn là lý thuyết kiến tạo mảng.

Kim tự tháp Yonaguni trên thềm Nanhailand


Yonaguni 1.jpg
Phần 1: Kim tự tháp Yonaguni và mối liên hệ với nền văn minh của người Việt trên thềm Nanhailand

1/ Dẫn nhập:
Như trong các bài viết về nguồn gốc dân tộc Việt, thường có nhắc đến thềm Nanhailand bên cạnh thềm Sundaland, vùng đất bị chìm dần xuống biển Đông trong khoảng thời gian từ 15000-BC đến 8000-BC.
Trong báo Khảo Cổ Học Việt Nam số 6 năm 2006 có đăng tin các nhà khảo cổ Việt Nam tìm thấy nhiều vỏ ốc ruộng và ốc nước ngọt đã bán hóa thạch, trong hang Thủng, Vịnh Hạ Long. Điều này góp thêm một bằng chứng về vùng đất sinh sống của người Việt cổ là tại thềm Nanhailand.
Bài viết của Nguyễn Đức Hiệp về nguồn gốc Mân Việt và Đông Nam Á cổ của một số dân tộc bản địa tại Đài Loan cũng góp thêm bằng chứng cho nhận định này.