A. Phong Thủy?
Phong là GIÓ, Thủy là
NƯỚC, nghiên cứu Phong Thủy thực chất là nghiên cứu nguồn gió và dòng
nước. Muốn làm được việc đó, cần có những cứ liệu chính xác về địa lý cảnh quan,
để rồi hoặc tận dụng những điều kiện ưu việt của nó, giúp con người
sống ngày một tốt hơn, hoặc khắc chế những yếu tố bất lợi của nó, để
giảm bớt tai họa cho cuộc sống của mỗi người.
Ở tầm “vi mô”, các
thầy phong thủy hành nghề theo yêu cầu của các gia chủ, họ chỉ xem xét
phạm vi chật hẹp của ngôi nhà, thửa đất nho nhỏ của một gia đình, họ
chỉ được quan sát môi trường hẹp xung quanh mảnh đất, đường đi lại,
dòng sông chẩy qua, mái đình, ngôi chùa ở gần đó, cái cột điện, cây đa
truyền sinh khí hay lưu âm khí … rồi ông thầy đưa ra các giải pháp chế
ngự hung khí, khai thác sinh khí bằng cách trổ cổng ngõ, đào ao, trồng
cây, hoặc có khi chỉ treo trước nhà một tấm gương hay một lá bùa… Ông
thầy có thể hiểu, nhưng không thay đổi được vận khí của một vùng đất,
của cả làng, cả huyện, cả tỉnh hoặc cả một quốc gia. Thực tế, đã có
nhiều thầy giỏi, hành nghề có uy tín, được nhiều người hâm mộ. Nhưng,
ta hãy thử nghĩ xem, nếu cả huyện, cả tỉnh hay cả quốc gia của ta bị
lụn bại, thì việc bám vào tấm gương hay lá bùa trước cổng, điều hanh
thông có đến được với gia đình ta và con cháu ta không?
Ở tầm “vĩ
mô”, các nhà nghiên cứu phong thủy địa mạch có tầm nhìn bao quát hơn,
rộng hơn và cơ bản hơn. Từ hình dạng đất nước, từ cấu trúc địa hình,
dẫy núi, dòng sông… con người phải tận dụng, nhưng phải tôn trọng, làm
những việc hợp với nguyên lý khoa học, hợp với thời đại và mang lại lợi
ích trường tồn cho đất nước ta, tức là cho mỗi chúng ta.
Đây là Blog tổng hợp các kiến thức và phần mềm cơ bản của nhiều lĩnh vực khác nhau, chủ yếu về: Tin học - Y học - Ngoại ngữ - Văn hóa phương Đông - Phật giáo
Thứ Hai, 28 tháng 5, 2012
MINH TRIẾT VIỆT TRONG SỰ TÍCH ÔNG TÁO
Ông
Táo trong truyền thuyết và phong tục Việt
Cứ
mỗi khi năm hết Tết đến thì nhà nhà Việt Nam theo
phong tục lại làm lễ
cúng Ông Táo về trời. Đây là một phong
tục thuần Việt có từ thời Hùng
Vương dựng nước và còn giữ lại trong truyền thống văn
hóa Việt đến ngày
nay.Bằng chứng gián tiếp cho điều này là từ thời
Hùng vương thứ VI, vua
Hùng đã chấm giải nhất cho hoảng tử Lang Liêu
là người kế vị và bánh
chưng bánh dày do hoàng tử Lang Liệu được đặc biệt
dùng cúng tổ tiên
trong ngày Tết.Từ đó, chúng ta dễ dàng suy
ra rằng: Lễ Tết nguyên đán
có từ thế kỷ XV trước CN – tương đương thời vua Bàn Canh
của Ân Thương.
Từ đó chúng ta dễ dàng đặt vấn đề với lễ
cúng Ông Táo về trời liên hệ
đến ngày giáp Tết phải là phong tục của người Việt
từ thời xa xưa.Bởi
vì, khi nền văn minh Hoa Hạ tiếp quản được nền văn minh ở Nam
Dương Tử,
đã Hán hóa những giá trị văn hóa
Việt trong hơn 1000 năm và tiếp tục
duy trì đến bây giờ, ở vùng đất cũ của Văn Lang
xưa, khiến không ít
người ngộ nhận tục cúng ông Táo là của người
Hán. Nhưng chính vì nguồn
gốc tục cúng Ông Táo trong văn hóa
Hán chỉ là sao chép lại từ văn hiến
Việt. Nên nó chỉ là một tín ngưỡng thuần
túy và không mang tính minh
triết liên hệ với nội dung của nó.
Ngược
lại, truyền thuyết của dân tộc Việt với hình ảnh
Táo quân “Hai ông, một
bà” và nội dung của nó lại trùng khớp
hoàn toàn về nội dung với những
giá trị minh triết Đông phương của chính cái
mà người ta gọi là có
nguồn gốc Hán.Chúng ta hãy xem lại truyền thuyết
có dấu ấn cổ xưa nhất
về ông Táo còn lưu truyền trong văn hóa
Việt. Tóm lược như sau:
Trọng
Cao có vợ là Thị Nhi ăn ở với nhau đã lâu
mà không con, nên sinh ra
buồn phiền, hay cãi cọ nhau. Một hôm, Trọng Cao giận
quá, đánh vợ. Thị
Nhi bỏ nhà ra đi sau đó gặp và bằng lòng
làm vợ Phạm Lang. Khi Trọng
Cao hết giận vợ, nghĩ lại mình cũng có lỗi nên đi
tìm vợ. Khi đi tìm vì
tiền bạc đem theo đều tiêu hết nên Trọng Cao đành
phải đi ăn xin.Khi
Trọng Cao đến ăn xin nhà Thị Nhi, thì hai bên nhận
ra nhau. Thị Nhi
rước Trọng Cao vào nhà, hai người kể chuyện và Thị
Nhi tỏ lòng ân hận
vì đã trót lấy Phạm Lang làm chồng.Phạm
Lang trở về nhà, sợ chồng bắt
gặp Trọng Cao nơi đây thì khó giải thích,
nên Thị Nhi bảo Trọng Cao ẩn
trong đống rơm ngoài vườn. Phạm Lang về nhà liền ra đốt
đống rơm để lấy
tro bón ruộng. Trọng Cao không dám chui ra
nên bị chết thiêu. Thị Nhi
trong nhà chạy ra thấy Trọng Cao đã chết bởi sự sắp đặt
của mình nên
nhào vào đống rơm đang cháy để chết theo.Phạm Lang
gặp tình cảnh quá
bất ngờ, thấy vợ chết không biết tính sao, liền nhảy
vào đống rơm đang
cháy để chết theo vợ.Ngọc Hoàng cảm động trước mối
chân tình của cả ba
người, (2 ông, 1 bà), và cũng cảm thương cái
chết trong lửa nóng của
họ, ngài cho phép họ được ở bên nhau mãi
mãi bèn cho ba người hóa thành
“ba đầu rau” hay “chiếc kiềng 3 chân” ở nơi nhà bếp của
người Việt ngày
xưa.Từ đó, ba người ấy được phong chức Táo Quân,
trông coi và giữ lửa
cho mọi gia đình, đồng thời có nhiệm vụ trông nom
mọi việc lành dữ,
phẩm hạnh của con người. Táo Quân, còn gọi
là Táo Công, là vị thần bảo
vệ cho cuộc sống gia đình, thường được thờ ở nơi nhà bếp,
cho nên còn
được gọi là Vua Bếp.
NỀN VĂN HÓA MỘT THỜI CỦA BỜ NAM SÔNG DƯƠNG TỬ
Tranh thờ Ngũ Hổ
Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, hổ là con vật có sức mạnh thiêng liêng diệt trừ được ma quỷ. Đã từ lâu, hổ được tôn thờ và danh xưng của hổ cũng được thần thánh hóa là Ngài, là “Ông Ba mươi” đầy uy linh, quyền kính. Hổ được dựng thành biểu tượng qua nhiều chất liệu của tạo hình: gỗ, đá, vôi giấy, đất nung, tranh vẽ, tranh cắt giấy... có ở hầu khắp các công trình: đền, miếu, đình, lăng mộ… Nhưng mẫu tranh được biết đến nhất qua nhiều thế hệ đó là tranh Ngũ Hổ của phố Hàng Trống (Hà Nội) ngày xưa. Không chỉ là một tác phẩm hội họa, tranh Ngũ Hổ còn ẩn chứa nhiều thông điệp của nền văn hóa cổ phương Đông.
Không bày trên bàn thờ gia tiên như những bức tranh ngũ quả, tranh Ngũ Hổ thường treo ở bàn thờ dành riêng cho “Ông Ba mươi”, dưới ban thờ thần thánh hoặc thờ Phật. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, tục thờ hổ bắt nguồn từ một cuộc sống nguyên thủy, khi con người còn sống trong điều kiện săn bắt, hái lượm hoặc giai đoạn đầu của cuộc sống nông nghiệp, hổ chính là sức mạnh thiên nhiên gần gũi và là tai họa đối với con người. Do đó, con người thờ hổ.
Ông Khiết - Một biểu tương minh triết của văn minh Lạc Việt.
Sự xác định phát minh ra la bàn thuộc về văn minh Việt cổ.
Website Lý học Đông Phương
Hướng dẫn: Thiên Sứ
Biên soan: Achau
Bổ sung: Thiên Đồng
Trong hội thảo "Tính khoa học của Phong thủy", do Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương tổ chức tại Hanoi, ở khách sạn La Thành ngày 15 - 12 - 2009, Hoàng Triều Hải là một thành viên nghiên cứu và hiện là trưởng đại diện Văn Phòng Hanoi của Trung tâm đã giới thiệu "Ông Khiết" - một vật trấn yểm độc đáo của Phong Thủy Lạc Việt. Ông Khiết chính là một món quà tặng của Trung Tâm cho các vị khách quí tham dự hội thảo.
Đây cũng chính là một biểu tượng đầy tính minh triết của nền văn Lạc Việt, một thời huyền vĩ ở miến nam sông Dương tử....

Ông Khiết - quà tặng của Trung tâm trong hội thảo.
Ảnh: TTNCLHĐP
Tính minh triết Việt qua biểu tượng Ông Khiết
Có lẽ, hầu hết người Việt Nam khi bước vào đời, trước nhưng khó khăn của cuộc sống đầy bon chen, sát phạt, thì thường tự an ủi với câu thành ngữ rất phổ biến: "Ngậm miệng ăn tiền". Hoặc trước những bất công xã hội, những sự ức chế thì ông cha ta cũng thường nói: "Cóc cũng phải mở miệng". Hay trong đời thường, trước những khó khăn không thể vượt qua, người ta thường thách đố nhau: "Đợi đến cóc mọc râu" mới làm được việc đó. Đã từ lâu, nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, đã phát hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa những câu thành ngữ lưu truyền trong dân gian Việt Nam, những giá trị văn hóa phi vật thể của nền văn hiến Việt liên hệ đến hình tượng "Ông Khiết", qua những tác phẩm của ông: "Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam", "Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại", "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch", "Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp"; "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt"…nhằm phục hồi hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành thuộc về nền văn hiến Việt 5000 năm huyền vĩ phía Nam Dương Tử. Có thể nói rằng: Trong suốt lịch sử trải gần 5000 năm đó, hình tượng "Ông Khiết" - cụ Cóc - luôn gắn bó với nền văn hóa truyền thống Việt. Chúng ta có thể nhận thấy ngày hình ảnh "Ông khiết" Việt trong nền văn hiến Việt qua những di sản khảo cổ từ hàng ngàn năm trước:
Website Lý học Đông Phương
Hướng dẫn: Thiên Sứ
Biên soan: Achau
Bổ sung: Thiên Đồng
Trong hội thảo "Tính khoa học của Phong thủy", do Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương tổ chức tại Hanoi, ở khách sạn La Thành ngày 15 - 12 - 2009, Hoàng Triều Hải là một thành viên nghiên cứu và hiện là trưởng đại diện Văn Phòng Hanoi của Trung tâm đã giới thiệu "Ông Khiết" - một vật trấn yểm độc đáo của Phong Thủy Lạc Việt. Ông Khiết chính là một món quà tặng của Trung Tâm cho các vị khách quí tham dự hội thảo.
Đây cũng chính là một biểu tượng đầy tính minh triết của nền văn Lạc Việt, một thời huyền vĩ ở miến nam sông Dương tử....
Ông Khiết - quà tặng của Trung tâm trong hội thảo.
Ảnh: TTNCLHĐP
Tính minh triết Việt qua biểu tượng Ông Khiết
Có lẽ, hầu hết người Việt Nam khi bước vào đời, trước nhưng khó khăn của cuộc sống đầy bon chen, sát phạt, thì thường tự an ủi với câu thành ngữ rất phổ biến: "Ngậm miệng ăn tiền". Hoặc trước những bất công xã hội, những sự ức chế thì ông cha ta cũng thường nói: "Cóc cũng phải mở miệng". Hay trong đời thường, trước những khó khăn không thể vượt qua, người ta thường thách đố nhau: "Đợi đến cóc mọc râu" mới làm được việc đó. Đã từ lâu, nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, đã phát hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa những câu thành ngữ lưu truyền trong dân gian Việt Nam, những giá trị văn hóa phi vật thể của nền văn hiến Việt liên hệ đến hình tượng "Ông Khiết", qua những tác phẩm của ông: "Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam", "Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại", "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch", "Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp"; "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt"…nhằm phục hồi hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành thuộc về nền văn hiến Việt 5000 năm huyền vĩ phía Nam Dương Tử. Có thể nói rằng: Trong suốt lịch sử trải gần 5000 năm đó, hình tượng "Ông Khiết" - cụ Cóc - luôn gắn bó với nền văn hóa truyền thống Việt. Chúng ta có thể nhận thấy ngày hình ảnh "Ông khiết" Việt trong nền văn hiến Việt qua những di sản khảo cổ từ hàng ngàn năm trước:
Bảng tra cứu mệnh theo cung phi, mệnh cung trong phong thủy
Dùng Đá quý hợp Mệnh theo Cung Phi mang lại sức khoẻ, hạnh phúc, an
khang, thịnh vượng.Đá quý hỗ trợ việc hoán cải số phận, tạo sự hanh
thông rất tuyệt vời.
Màu sắc các mệnh theo Ngũ hành:
| Mệnh | Tương sinh (1) | Hoà hợp (2) | Chế khắc (3) | Bị khắc (kỵ) |
|---|---|---|---|---|
| KIM | Vàng, Nâu đất | Trắng, Xám, Ghi | Xanh lục | Đỏ, Hồng, Tím |
| MỘC | Đen, Xanhnước | Xanh lục | Vàng, Nâu đất | Trắng, Xám, Ghi |
| THUỶ | Trắng, Xám, Ghi | Đen, Xanhnước | Đỏ, Hồng, Tím | Vàng, Nâu đất |
| HOẢ | Xanh lục | Đỏ, Hồng, Tím | Trắng, Xám, Ghi | Đen, Xanhnước |
| THỔ | Đỏ, Hồng, Tím | Vàng, Nâu đất | Đen, Xanhnước | Xanh lục |
Bảng tra mệnh theo Cung Phi :
| NAM | NĂM SINH | NỮ | |||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Số | Cung | Mệnh | Hướng | Hướng | Mệnh | Cung | Số | ||||
| 7 | Đoài | Kim | Tây | 1921 | 1948 | 1975 | 2002 | Đông Bắc | Thổ | Cấn | 8 |
| 6 | Càn | Kim | Tây Bắc | 1922 | 1949 | 1976 | 2003 | Nam | Hoả | Ly | 9 |
| 5 | Khôn | Thổ | Tây Nam | 1923 | 1950 | 1977 | 2004 | Bắc | Thổ | Khảm | 1 |
| 4 | Tốn | Mộc | Đông Nam | 1924 | 1951 | 1978 | 2005 | Tây Nam | Thổ | Khôn | 2 |
| 3 | Chấn | Mộc | Đông | 1925 | 1952 | 1979 | 2006 | Đông | Mộc | Chấn | 3 |
| 2 | Khôn | Thổ | Tây Nam | 1926 | 1953 | 1980 | 2007 | Đông Nam | Mộc | Tốn | 4 |
| 1 | Khảm | Thuỷ | Bắc | 1927 | 1954 | 1981 | 2008 | Đông Bắc | Thổ | Cấn | 5 |
| 9 | Ly | Hoả | Nam | 1928 | 1955 | 1982 | 2009 | Tây Bắc | Kim | Càn | 6 |
| 8 | Cấn | Thổ | Đông Bắc | 1929 | 1956 | 1983 | 2010 | Tây | Kim | Đoài | 7 |
| 7 | Đoài | Kim | Tây | 1930 | 1957 | 1984 | 2011 | Đông Bắc | Thổ | Cấn | 8 |
| 6 | Càn | Kim | Tây Bắc | 1931 | 1958 | 1985 | 2012 | Nam | Hoả | Ly | 9 |
| 5 | Khôn | Thổ | Tây Nam | 1932 | 1959 | 1986 | 2013 | Bắc | Thuỷ | Khảm | 1 |
| 4 | Tốn | Mộc | Đông Nam | 1933 | 1960 | 1987 | 2014 | Tây Nam | Thổ | Khôn | 2 |
| 3 | Chấn | Mộc | Đông | 1934 | 1961 | 1988 | 2015 | Đông | Mộc | Chấn | 3 |
| 2 | Khôn | Thổ | Tây Nam | 1935 | 1962 | 1989 | 2016 | Đông Nam | Mộc | Tốn | 4 |
| 1 | Khảm | Thuỷ | Bắc | 1936 | 1963 | 1990 | 2017 | Đông Bắc | Thổ | Cấn | 5 |
| 9 | Ly | Hoả | Nam | 1937 | 1964 | 1991 | 2018 | Tây Bắc | Kim | Càn | 6 |
| 8 | Cấn | Thổ | Đông Bắc | 1938 | 1965 | 1992 | 2019 | Tây | Kim | Đoài | 7 |
| 7 | Đoài | Kim | Tây | 1939 | 1966 | 1993 | 2020 | Đông Bắc | Thổ | Cấn | 8 |
| 6 | Càn | Kim | Tây Bắc | 1940 | 1967 | 1994 | 2021 | Nam | Hoả | Ly | 9 |
| 5 | Khôn | Thổ | Tây Nam | 1941 | 1968 | 1995 | 2022 | Bắc | Thuỷ | Khảm | 1 |
| 4 | Tốn | Mộc | Đông Nam | 1942 | 1969 | 1996 | 2023 | Tây Nam | Thổ | Khôn | 2 |
| 3 | Chấn | Mộc | Đông | 1943 | 1970 | 1997 | 2024 | Đông | Mộc | Chấn | 3 |
| 2 | Khôn | Thổ | Tây Nam | 1944 | 1971 | 1998 | 2025 | Đông Nam | Mộc | Tốn | 4 |
| 1 | Khảm | Thuỷ | Bắc | 1945 | 1972 | 1999 | 2026 | Đông Bắc | Thổ | Cấn | 5 |
| 9 | Ly | Hoả | Nam | 1946 | 1973 | 2000 | 2027 | Tây Bắc | Kim | Càn | 6 |
| 8 | Cấn | Thổ | Đông Bắc | 1947 | 1974 | 2001 | 2028 | Tây | Kim | Đoài | 7 |
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)